Đề cương ôn tập Học kì I môn Ngữ Văn Lớp 12 năm học 2019- 2020
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập Học kì I môn Ngữ Văn Lớp 12 năm học 2019- 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Học kì I môn Ngữ Văn Lớp 12 năm học 2019- 2020

SỞ GD&ĐT TP.ĐÀ NẴNG ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I TRƯỜNG THPT TÔN THẤT TÙNG NĂM HỌC 2019 – 2020 ----ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO---- MÔN NGỮ VĂN 12 PHẦN A: KIẾN THỨC ÔN THI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN I. CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT: 6 Phương thức Đặc điểm nhận diện Thể loại Tự sự - Trình bày diễn biến sự việc, sự kiện qua các mốc thời gian - Có cốt truyện, nhân vật, ngôi kể - Sử dụng câu trần thuật - Truyện dân gian. - Bản tin báo chí - Bản tường thuật, tường trình. - Tác phẩm văn học nghệ thuật (truyện, tiểu thuyết) Nghị luận - Có ý kiến, quan điểm - Có xây dựng luận điểm, luận cứ - Lập luận chặt chẽ - Có sử dụng thao tác lập luận phân tích, chứng minh - Cáo, hịch, chiếu, biểu. - Xã luận, bình luận, lời kêu gọi. - Sách lí luận. - Tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa. Biểu cảm - Bày tỏ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái độ - Có từ ngữ thể hiện tình cảm - Khơi gợi lòng đồng cảm ở nguời đọc - Tác phẩm văn học: thơ trữ tình, tùy bút. - Điện mừng, thăm hỏi, chia buồn Miêu tả - Tái hiện sự vật, việc, phong cảnh, con người - Có từ ngữ chỉ hình dáng, màu sắc, đường nét - Văn tả cảnh, tả người, vật... - Đoạn văn miêu tả trong tác phẩm tự sự. Thuyết minh - Thường thuyết minh về danh lam thắng cảnh, con vật, cây cối, các hiện tượng khoa học - Giới thiệu, trình bày đặc điểm, nguồn gốc của đối tượng - Thuyết minh sản phẩm - Giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật - Trình bày tri thức và phương pháp trong khoa học. Hành chính – công vụ - Thường là các văn bản đơn xin thôi học, biên bản, có mẫu sẵn - Trình bày ý muốn, quyết định nào đó về quyền hạn, trách nhiệm giữa người và người - Đơn từ - Báo cáo - Đề nghị - Văn bản có mẫu sẵn Lưu ý: Cần đọc kỹ câu lệnh trước khi làm bài: “Xác định những phương thức biểu đạt có trong văn bản?” à trả lời ít nhất 2 phương thức. “Xác đinh phương thức biểu đạt chính (chủ yếu) trong văn bản?” à chỉ chọn 1 phương thức nổi bật nhất để trả lời. II/ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ: 6 PCNN Phạm vi Đặc trưng Ví dụ 1. SINH HOẠT Dùng trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày - Tính cá thể (*): cách nói, diễn đạt cá nhân - Tính cụ thể (*): tức thời, ngắn gọn, phục vụ nhu cầu giao tiếp - Tính cảm xúc: thái độ, tình cảm góp phần diễn đạt nội dung - Lời đối thoại, độc thoại - Thư từ, nhật kí 2. NGHỆ THUẬT Tác phẩm văn chương - Tính hình tượng (*): được xây dựng bằng các biện pháp nghệ thuật - Tính truyền cảm: khơi gợi sự đồng điệu, đồng cảm ở người đọc - Tính cá thể: phong cách sáng tác. - Các tác phẩm văn học có hình tượng nhân vật, 3. CHÍNH LUẬN Vấn đề chính trị, xã hội, thời sự nóng bỏng - Tính công khai (*): công khai bình luận các vấn đề chính trị - xã hội - Tính chặt chẽ(*): hệ thống luận điểm, luận cứ, lập luận chặt chẽ - Tính truyền cảm: hùng hồn, mạnh mẽ, hay tha thiết - Các văn bản chính luận, xã hội: hịch, cáo, chiếu, tuyên ngôn - Những văn bản đề cập đến vấn đề chính trị - xã hội. 4. BÁO CHÍ Thông tin tất cả các vấn đề thời sự của xã hội - Tính thông tin, thời sự (*): nóng hổi, chính xác về địa điểm, thời gian, nhân vật, sự kiện - Tính hấp dẫn: vấn đề mọi người quan tâm - Tính ngắn gọn: thông tin cần thiết - Phóng sự, tiểu phẩm, bản tin, quảng cáo, bình luận thời sự - Thường được in trên báo mạng, báo in, báo nói 5. KHOA HỌC Lĩnh vực khoa học - Tính khái quát, trừu tượng (*): dùng thuật ngữ khoa học để biểu hiện khái niệm khoa học - Tính khách quan phi cá thể: rõ ràng, khách quan, không có dấu ấn cá nhân - Tính logic: sản phẩm trí tuệ, tư duy logic Sách giáo khoa, luận văn 6. HÀNH CHÍNH Lĩnh vực hành chính công vụ - Tính khuôn mẫu: soạn theo khuôn mẫu do nhà nước quy định - Tính chính xác minh bạch: chỉ cho phép một cách hiểu - Tính nghiêm túc khách quan: vì có quan hệ đến thể chế quốc gia, xã hội Giấy xin nhập học, biên bản, quyết định, thông tư III. CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ: Lưu ý câu lệnh: “Nêu tác dụng của biện pháp tu từ có trong văn bản” à HS cần xác định trước biện pháp tu từ rồi mới nêu tác dụng của nó. III.1 Các biện pháp tu từ từ vựng – ngữ pháp. TÊN GỌI ĐỊNH NGHĨA TÁC DỤNG 1. SO SÁNH - Đối chiếu hai đối tượng để tìm ra điểm chung hoặc khác biệt. - Tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động; giúp bộc lộ rõ nét sự việc được so sánh. 2. ẨN DỤ - Thực chất là một kiểu so sánh ngầm. - Dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa hai sự việc, hiện tượng. - Giúp câu văn giàu hình ảnh, hàm súc, lôi cuốn người nghe. ẨN DỤ CHUYỂN ĐỔI CẢM GIÁC - Chuyển đổi việc cảm nhận 1 sự vật, hiện tượng từ giác quan này sang giác quan kia5 giác quan . 3. HOÁN DỤ - Là cách dùng sự vật này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng, khái niệm khác dựa vào nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. - Gồm 4 loại hoán dụ: + Lấy bộ phận gọi toàn thể.(nhà có 5 miệng ăn) + Lấy vật chứa đựng gọi vật được chứa đựng (Lớp im lặng học bài). + Lấy dấu hiệu gọi sự vật. + Lấy cái cụ thể gọi cái trừu tượng. - Tăng sức gợi hình, gợi cảm. 4. NHÂN HÓA - Là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những hoạt động, tính cách, suy nghĩ giống như con người. - Làm cho sự vật trở nên sống động, gần gũi và có hồn. 5. NÓI QUÁ - Tên gọi khác: ngoa dụ, thậm xưng, khoa trương, phóng đại, cường điệu... - Là phép tu từ phóng đại quy mô, tính chất, đặc điểm của đối tượng - Gây sự chú ý, tăng sức biểu cảm 6. NÓI GIẢM, NÓI TRÁNH - Tên gọi khác: khiêm dụ, nói nhún. - Là phép tu từ dùng cách nói giảm nhẹ mức độ, tính chất của sự vật, hiện tượng - Tránh gây ấn tượng không hay đối với người nghe hoặc thể hiện sự khiên tốn, nhún nhường. III.2 Các biện pháp tu từ cú pháp TÊN GỌI KHÁI NIỆM TÁC DỤNG 1. PHÉP ĐIỆP - Là cách lặp lại một yếu tố ngữ âm, từ, cụm từ (ngữ), câu - Có 3 loại: - Nhấn mạnh ý nghĩa (tùy vào từ/ngữ/câu được lặp lại) - Tăng sức biểu cảm; tạo liên kết và nhịp điệu (nhẹ nhàng/ dồn dập/ mãnh liệt/ khoan thai) 2. TƯƠNG PHẢN/ĐỐI LẬP - Là sắp xếp bên cạnh nhau các cặp từ ngữ có tính chất trái ngược, đối lập nhau nhằm làm nổi bật một nội dung - Gây sự chú ý với người đọc - Nhấn mạnh đến các khía cạnh của một vấn đề - Làm nổi bật một trong hai đối tượng tương phản 3. ĐẢO NGỮ - Là phép tu từ tay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường trong câu. - Nhằm tạo ấn tượng, gây sự chú ý - Nhấn mạnh ý nghĩa của từ/cụm từ được đảo ngữ (khi có từ, ta sẽ phân tích cụ thể ý nghĩa đó) - Tăng sức biểu cảm 4. CÂU HỎI TU TỪ - Là câu hỏi nhưng không nhằm tìm kiếm câu trả lời, mà để bày tỏ thái độ, tình cảm hoặc dùng để hùng biện - Bày tỏ tình cảm, thái độ. - Tạo sự tương tác với người nghe hay thay đổi mạch văn nhằm gây bất ngờ, thú vị. IV. CÁC PHÉP LIÊN KẾT: 4 Các phép liên kết Đặc điểm nhận diện Phép lặp từ ngữ Lặp lại các âm/từ/cụm từ đã có ở câu trước. Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa) Sử dụng các từ đồng nghĩa/trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với các từ/cụm từ ở câu trước. Phép thế Sử dụng từ/cụm từ mang nghĩa tương đồng thay thế từ/cụm từ đã có ở câu trước. Phép nối Sử dụng từ/cụm từ biểu thị quan hệ với câu trước (tuy nhiên; bên cạnh đó; ngoài ra...). V. THỂ THƠ: 3 nhóm chính: - Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói; - Các thể thơ Đường luật: ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, - Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, tự do, thơ - văn xuôi, VI. CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN: 6 Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường có một thao tác chính. Khi trả lời, cần lưu ý đến cách đặt câu hỏi trong đề bài như ở phần phương thức biểu đạt. Thao tác lập luận Đặc điểm nhận diện Giải thích làm cho người đọc hiểu các khái niệm...(thường có từ là) Phân tích Chia nhỏ đối tượng ra thành nhiều khía cạnh để làm rõ. Chứng minh Dùng dẫn chứng xác thực , cụ thể, chính xác để làm sáng tỏ đối tượng. Bác bỏ Dùng lí lẽ, chứng cứ để bác bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, đồng thời nêu ý kiến đúng đắn. Bình luận Đưa ra nhận xét, đánh giá của bản thân về vấn đề Đúng/sai; tốt / xấu; lợi / hại; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng. So sánh Đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau. + Giống : Tương đồng + Khác: Tương phản. VII. CÁC TRÌNH TỰ LẬP LUẬN Cách gọi khác: phương thức lập luận hoặc cách thức trình bày một đoạn văn. Chú trọng trình tự diễn dịch; quy nạp và tổng – phân – hợp. Trình tự lập luận Ví dụ 1.Diễn dịch: - Câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, - Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, 2. Quy nạp: - Câu chủ đề nằm ở vị trí cuối đoạn - Các câu trên được trình bày bằng các thao tác lập luận, minh họa, cảm nhận và rút ra nhận xét đánh giá chung. 3. Tổng-phân-hợp - Phối hợp diễn dịch với qui nạp. - Câu mở đầu đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo triển khai cụ thể ý khái quát. - Câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. 4. Song hành: - Các câu triển khai nội dung song song nhau, không nội dung nào bao trùm lên nội dung nào. Mỗi câu trong đoạn văn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn, làm rõ cho nội dung đoạn văn. - HS tự xác định câu chủ đề 5. Móc xích: - Các ý gối đầu, đan xen nhau và thể hiện cụ thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ đã có ở câu trước vào câu sau. - Đoạn móc xích có thể có hoặc không có câu chủ đề. VIII. XÁC ĐỊNH NỘI DUNG, CHI TIẾT CHÍNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VĂN BẢN: 1. Đặt nhan đề cho văn bản: - HS phải hiểu ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề. - Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản. 2. Nội dung chính của văn bản: - Căn cứ vào tiêu đề của văn bản. - Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn, câu thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản. - Căn cứ vào câu chốt của văn bản. Lưu ý: Phần trả lời “nội dung văn bản” diễn đạt từ 3 – 5 dòng. Không quá ngắn, cũng không quá dài. 3. Đề tài hay chủ đề: Đề tài Chủ đề - Đề tài là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm. Thường là bề trên, bề nổi. - Phạm vi đề tài rất rộng: thiên nhiên, đất nước, tình yêu, con người, - Một tác phẩm có rất nhiều đề tài. - Chủ đề được xây dựng từ đề tài, đi vào bề sâu (soi rọi, tô đậm điều tác giả cho là quan trọng) - Một tác phẩm có nhiều chủ đề Thường thì đề tài sẽ rộng hơn chủ đề Ví dụ bài SANG THU Đề tài: thiên nhiên giao mùa Chủ đề: Cảm nhận tinh tế của một tâm hồn trước biến đổi của thiên nhiên. Bộc lộ tình yêu thiê nhiên, cuộc đời. *Lưu ý mức độ phân hóa câu hỏi: - Nhận biết: Tìm/chỉ ra/xác định (*) phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ; biện pháp tu từ... - Thông hiểu: + Nêu nội dung chính/vấn đề chính. + Hiểu nội dung, ý nghĩa một vài câu đặc sắc trong ngữ liệu. + Hiểu tác dụng các biện pháp tu từ, hình ảnh... Vận dụng: Rút ra bài học, thông điệp, ý nghĩa PHẦN B: KIẾN THỨC, KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Phân loại: Hai loại chính: Nghị luận về tư tưởng đạo lý Nghị luận về hiện tượng đời sống * Lưu ý: - Vấn đề nghị luận thường liên quan tới ngữ liệu của phần đọc hiểu. - Cần chú ý dung lượng đề yêu cầu (Khoảng 200 từ => 2/3 đến 1 trang giấy thi là dung lượng an toàn). - Chú ý 6 thao tác lập luận và các phương thức trình bày đoạn (đặc biệt lưu ý diễn dịch; tổng – phân – hợp và quy nạp). - Đề yêu cầu “viết đoạn văn” thì chỉ viết một đoạn duy nhất. 2. Phân biệt hai dạng Nghị luận xã hội: NL về một tư tưởng đạo lý NL về một hiện tượng đời sống Là một câu nói/ý kiến/tư tưởng gần giống một câu danh ngôn hoặc được trích từ phần đọc hiểu. Ví dụ: + Cách tốt nhất để thích ứng với cuộc sống này là chấp nhận thực tế và tin vào chính mình. + Trước hết hãy tôn trọng người khác. Rồi sau đó, nghe theo chính mình. Thường có các từ khóa như: hôm nay; hiện nay; ở Việt Nam; trên thế giới... CÁCH LÀM - Bước 1: Giải thích từ khó, ý nghĩa cả câu nói = > rút ra vấn đề cần bàn luận (là gì?) - Bước 1: Giải thích hiện tượng - Bước 2: Phân tích, chứng minh các biểu hiện cụ thể (trả lời câu hỏi: Tại sao? Như thế nào?). - Bước 2: Bàn bạc, phân tích làm rõ hiện tượng (hiện tượng có hay xảy ra trong đời sống không? Mức độ? Biểu hiện). - Bước 3: Bàn luận đúng – sai; tích cực – tiêu cực (Nếu không...thì sao? Có phải lúc nào cũng...? - Bước 3: Nêu nguyên nhân, tác hại (nếu tiêu cực); nêu tác dụng (nếu tích cực) - Bước 4: Mở rộng vấn đề - Bước 4: Nêu giải pháp: (gia đình, nhà trường, xã hội). - Bước 5: Bài học, liên hệ bản thân (Hiểu gì? Hành động gì?) - Bước 5: Bài học. PHẦN C. PHẦN LÀM VĂN (NGHỊ LUẬN VĂN HỌC). Bài 1: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (HỒ CHÍ MINH). I. Tác giả: 1. Quan điểm sáng tác: - Hồ Chí Minh coi văn học - nghệ thuật là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. - Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn chương. - Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượnng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm văn học. Người luôn tự đặt câu hỏi : “Viết cho ai?”(đối tượng) “Viết để làm gì?”( mục đích). Sau đó mới quyết định “Viết cái gì?”(nội dung) và viết “Như thế nào?” (hình thức). 2. Phong cách nghệ thuật: Phong cách nghệ thuật HCM độc đáo, đa dạng: - Văn chính luận: bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá, gắn lí luận với thực tiễn. - Truyện kí rất chủ động và sáng tạo. lối kể chân thực, tạo không khí gần gũi, có khi giọng điệu châm biếm, sắc sảo, thâm thuý và tinh tế. Truyện ngắn của Người rất giàu chất trí tuệ và tính hiện đại. - Thơ ca có phong cách đa dạng: nhiều bài cổ thi hàm súc, uyên thâm đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật, có những bài là lời kêu gọi hùng hồn... * Nét chung trong phong cách sáng tác: ngắn gọn, trong sáng, giản dị, sử dụng linh hoạt các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật khác nhau nhằm đạt hiệu quả cao nhất. II. Tác phẩm: 1. Nội dung: a. Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc (Cơ sở lí luận): * Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp (“Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mĩ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp. Ý nghĩa: + Đề cao, tôn trọng những chân lý bất hủ của cha ông kẻ xâm lược. + Khôn khéo, kiên quyết dùng gậy ông đập lưng ông để vạch trần âm mưu tái xâm lược của kẻ thù. + Ngầm gửi gắm niềm tự hào dân tộc khi đặt ba bản tuyên ngôn ngang hành nhau. * Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh “suy rộng ra” về quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là một đóng góp riêng của Người vào lịch sử tư tưởng nhân loại. => Mở đầu bản tuyên ngôn thật súc tích, ngắn gọn, lập luận chặt chẽ. b. Tố cáo tội ác của thực dân Pháp: (Cơ sở thực tiễn) - Thực dân Pháp đã nhân danh khai hóa, bảo hộ, “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”. Bác đã vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ đó những lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó là những tội ác về chính trị, kinh tế, văn hóa, là những âm mưu thâm độc, chính sách tàn bạo: + Tội ác về chính trị: tước đoạt tự do dân chủ, luật pháp một cách dã man, chia để trị, chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, đầu độc dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện; + Tội ác về kinh tế: bóc lột, tước đoạt, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, sưu thuế nặng nề, vô lí đã bần cùng hoá nhân dân ta, đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, gây ra thảm họa (làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945). + Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”. + Hành động phản nhân đạo: Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”. - Khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. c. Tuyên bố độc lập: + Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp; +Tuyên bố quyền độc lập của nhân dân Việt Nam; +Kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp; + Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền độc lập, tự do ấy. 2. Nghệ thuật: - Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục. - Ngôn ngữ vừa chính xác vừa giàu hình ảnh, gợi cảm xúc. - Giọng văn linh hoạt. 3. Ý nghĩa văn bản: - Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do ấy. - Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do. - Là một áng văn chính luận mẫu mực. THAM KHẢO THÊM NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU – NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ DÂN TỘC (PHẠM VĂN ĐỒNG) I. Tác giả, tác phẩm: - Phạm Văn Đồng: một nhà cách mạng xuất sắc; nhà văn hóa lớn; nhà lí luận văn nghệ uyên bác của nước ta trong thế kỉ XX. - Hoàn cảnh ra đời: + Viết nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3-7-1888), II. Tác phẩm: 1. Nội dung: a. Phần mở đầu: Nêu cách tiếp cận vừa có tính khoa học vừa có ý nghĩa phương pháp luận đối với thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, một hiện tượng văn học độc đáo có vẻ đẹp riêng không dễ nhận ra. - Hình ảnh so sánh: “những vì sao có ánh sáng khác thường” “con mắt mới thấy”. - Đưa ra cách tiếp cận mới mẻ: Thơ văn NĐC là một hiện tượng văn học độc đáo - Coi thơ văn là vũ khí chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa. b. Phần tiếp theo: Ý nghĩa, giá trị to lớn của cuộc đời, văn nghiệp Nguyễn Đình Chiểu. + Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu – một chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn của dân tộc: coi thơ văn là vũ khí chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa. + Thơ văn yêu nước chống ngoại xâm của Nguyễn Đình Chiểu “làm sống lại” một thời kì “khổ nhục” nhưng vĩ đại, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). + Truyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, chứa đựng những nội dung tư tưởng gần gũi với quần chúng nhân dân, là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời”, có thể “truyền bá rộng rãi trong dân gian”. c. Phần kết: Khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc. 2. Nghệ thuật: - Bố cục chặt chẽ, các luận điểm triển khai bám sát vấn đề trung tâm. - Cách lập luận từ khái quát đến cụ thể, kết hợp cả diễn dịch, quy nạp và hình thức “đòn bẩy”. - Lời văn có tính khoa học, vừa có màu sắc văn chương vừa khách quan; ngôn ngữ giàu hình ảnh. - Giọng điệu linh hoạt, biến hóa: khi hào sảng, lúc xót xa, 3. Ý nghĩa văn bản: Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu: cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc. Bài 2: TÂY TIẾN (Quang Dũng) I. Tác giả: - Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. - Một hồn thơ lãng mạn, tài hoa: nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, thơ giàu chất nhạc, họa... - Các tác phẩm chính: Rừng về xuôi; Mây đầu ô.... II. Tác phẩm: 1. Hoàn cảnh ra đời: - Binh đoàn Tây Tiến: + Thành lập năm 1947. + Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. + Địa bàn hoạt động: chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở. + Lực lượng: Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên. Họ sinh hoạt và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn rất lạc quan và dũng cảm. - Hoàn cảnh sáng tác: + Quang Dũng là một người lính trong đoàn quân Tây Tiến. Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác. Một năm sau ngày chia tay đoàn quân Tây Tiến, nhớ về đơn vị cũ ông viết bài thơ “Tây Tiến” tại làng Phù Lưu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội). + Bài thơ Tây Tiến được in trong tập “Mây đầu ô”(1986). + Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng. 3. Nội dung: 3.1. Đoạn 1 (từ câu 1 đến câu 14): Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội. a. Hai câu đầu là khúc dạo đầu của nỗi nhớ nhung: - Câu thơ cất lên như tiếng gọi thân thương, trìu mến, gọi về những gì thân thương nhất (Tây Tiến ơi). Đó là Sông Mã – dòng sông chứng nhân lịch sử; đó là rừng núi hoang vu nơi Tây Tiến từng đóng quân. - Phép điệp vần tinh tế “chơi vơi” khiến tiếng gọi như lan tỏa, chênh vênh trong miền hoài niệm về Tây Tiến. Từ “nhớ” điệp lại ở đầu hai vế câu càng làm cho nổi nhớ thêm day dứt, miên man. => Hai câu đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của bài thơ, đó là nỗi nhớ tha thiết hướng về Tây Tiến – những tháng năm không thể nào quên. b. Nỗi nhớ thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt, đầy chết chóc nhưng thơ mộng, trữ tình. - Theo dòng hoài niệm, những địa danh mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua lần lượt hiện về. Đó là Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu – những địa danh không còn mang màu sắc trung tính, vô hồn trên bản đồ nữa mà gợi lên không khí núi rừng xa xôi, lạ lẫm, hoang sơ và bí ẩn. - Nét đặc sắc đầu tiên của thiên nhiên miền Tây chính là màn sương mờ ảo, khắc nghiệt (sương lấp). - Nhớ con đường hành quân gập ghềnh, hiểm trở, đầy hiểm nguy giữa một bên là núi cao với một bên là vực sâu thăm thẳm. Không gian được mở ra ở nhiều chiều: chiều cao đến chiều sâu hút của những dốc núi, vực thẳm. Nhớ khung cảnh hoang vu của núi rừng với âm thanh “gầm thét” của thác nước, của loài hổ dữ rình rập vồ người mỗi khi chiều đến, đêm về. - Nhớ những những ngôi nhà nơi xóm núi như cánh buồm thấp thoáng trên mặt biển trong không gian bình yên và êm ả của mưa giăng đầy biến thung lũng thành “xa khơi”. --> Bức tranh của núi rừng miền Tây giàu được vẽ bằng bút pháp vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa giàu chất họa lại giàu chất nhạc. Nét vẽ vừa gân guốc, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại cũng rất mềm mại tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho bức tranh thiên nhiên. b. Nỗi nhớ về đồng đội và những kỉ niệm trên đường hành quân: - Nhớ cái tếu táo, lạc quan trong gian khổ với vẻ đẹp hồn nhiên qua cách nói nhân hóa đầy hóm hỉnh “súng ngửi trời”. Hình ảnh này đã gợi được “chất lính” trẻ trung, vẻ tươi mới, sức sống dạt dào trong tâm hồn của người lính Tây Tiến vốn xuất thân từ những thanh niên trí thức trẻ Hà Nội. - Nhớ những người đồng đội đã ngã xuống nhưng không bi luỵ. Nỗi mất mát, niềm cảm thương được nói bằng giọng thơ ngang tàng, kiêu hãnh “gục bên súng mũ bỏ quên đời”. - Nhớ tình cảm quân dân giữa những người lính Tây Tiến và đồng bào Tây Bắc “Nhớ ôi thơm nếp xôi”. Họ dừng chân nơi xóm núi sau chặng đường dài vất vả, họ quây quần trong niềm vui ấm áp, niềm hạnh phúc bên những nồi cơm còn thơm làn gạo mới. “Nhớ ôi!”- nỗi nhớ da diết, đằm thắm, sự gắn kết tình nghĩa thủy chung, giữa những con người miền Tây Bắc của tổ quốc với bộ đội kháng chiến. 3.2. Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22): Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân giữa người lính Tây Tiến với nhân dân Tây Bắc. a. Những kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết qua những đêm liên hoan văn nghệ đậm màu sắc lãng mạn, trữ tình: - Đêm liên hoan được miêu tả bằng những chi tiết lãng mạn: + Đêm liên hoan như đêm hội giao duyên, đêm tân hôn của những cặp tình nhân (hội đuốc hoa). + Nhân vật trung tâm của đêm hội là những thiếu nữ Tây Bắc trong những bộ trang phục và vũ điệu vừa lộng lẫy, vừa e thẹn, tình tứ. (xiêm áo, e ấp). + Cái nhìn trẻ trung, ngỡ ngàng, ngạc nhiên, say mê sung sướng của những người lính Tây Tiến trước vẻ đẹp phương xa (kìa em). --> Bằng bút pháp tài hoa, lãng mạn, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp giàu bản sắc văn hoá, phong tục của đồng bào vùng biên giới cùng tình cảm quân dân thắm thiết và tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống của người lính Tây Tiến. b. Vẻ đẹp của con người và cảnh vật miền Tây Bắc trong chiều sương trên sông nước Châu Mộc: - Không gian trên dòng sông, cảnh vật Châu Mộc hiện lên thật mờ ảo, thơ mộng nhuốm màu sắc cổ tích, huyền thoại (chiều sương, hồn lau). - Nổi bật lên trên bức tranh sông nước là cái dáng mềm mại, uyển chuyển của các cô gái Thái trên con thuyền độc mộc. - Những bông hoa rừng cũng như đang đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ. - Những bông lau ven rừng như có hồn và gợi nhớ da diết. 3.3. Đoạn 3: (từ câu 23 đến câu 30): Chân dung người lính Tây Tiến: Thông qua nỗi nhớ về cuộc chiến đấu gian khổ và hi sinh anh dũng, đoạn thơ đã trở thành một bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng của lí tưởng và vẻ hào hoa lãng mạn của những tâm hồn đầy mộng và mơ. a. Trong bốn câu đầu, nhà thơ tái hiện chân thực cuộc sống gian khổ, hào hùng của người lính Tây Tiến. - Trong kí ức của Quang Dũng, Tây Tiến là một đoàn binh có ngoại hình kì dị “không mọc tóc”, “xanh màu lá”. Ngoại hình xanh xao, gầy ốm này có thể là hậu quả của những trận sốt rét rừng liên miên, những thiếu thốn, gian khổ khắc nghiệt của chiến tranh. - Tuy nhiên, trong gian khổ, hình tượng người lính Tây Tiến vẫn hiện ra với dáng vẻ oai phong, lẫm liệt qua hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm”. Trên những gương mặt xanh xao gầy ốm đó vẫn toát lên nét dữ dội, kiêu hùng, uy nghi tựa chúa tể rừng xanh. - Bức tượng đài về người lính còn được khắc họa qua chiều sâu đẹp đẽ trong tâm hồn. Cái nhìn thẳng “mắt trừng” đầy sục sôi, ngời lên ý chí chiến đấu. Trong gian khổ nhưng vẫn “gửi mộng qua biên giới” - mộng lập công. Hình ảnh thơ mang dáng dấp của những tráng sĩ thời loạn xưa. Không những vậy, trái tim của những chàng trai Hà Thành vẫn dành một góc lưu luyến cho Hà Nội - “mơ Hà Nội dáng kiều thơm” – mơ về, nhớ về dáng hình kiều diễm của người thiếu nữ đất Hà thành thanh lịch. => Đoạn thơ như chứa đựng cả hai thế giới của nghĩa chung và tình riêng. Họ không chỉ có lí tưởng cao cả mà còn là những chàng trai lãng mạn đầy mộng và mơ. b. Đoạn thơ sau mang màu sắc bi tráng, trực tiếp miêu tả sự hi sinh anh dũng của người lính Tây Tiến: - Những người lính trẻ trung, hào hoa đó sẵn sàng gửi thân mình nơi biên cương xa xôi (mồ viễn xứ). Câu thơ mang màu sắc ảm đạm, bi thương về những nấm mồ vô danh nơi hoang vắng. - Nhưng bi mà không lụy, cảm giác ảm đạm nhanh chóng được xóa mờ bởi tứ thơ mạnh mẽ, khẳng định khí phách kiên cường, sẵn sàng tự nguyện hiến dâng “chẳng tiếc đời xanh” cho tổ quốc mà không hề tiếc nuối. - Bút pháp lãng mạn hóa đã biến tấm áo quân phục sờn rách thành bức chiến bào đẹp đẽ “áo bào thay chiếu”, gợi liên tưởng tới những trang nam nhi thời xưa. Những người lính Tây Tiến coi cái chết tựa lông hồng. Sự hy sinh ấy nhẹ nhàng, thanh thản như trở về với đất mẹ: “anh về đất”. - Âm hưởng bi tráng cất lên qua “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”: Linh hồn người tử sĩ đã hoà cùng sông núi. Con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc độc tấu đau thương, hùng tráng để tiễn người lính vào cõi bất tử. Âm hưởng dữ dội tô đậm cái chết bi hùng của người lính Tây Tiến. => Bút pháp lãng mạn kết hợp hàng loạt từ Hán Việt: Biên cương, viễn xứ, chiến trường, độc hành gợi không khí tôn nghiêm, trang trọng khi nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Hình ảnh người lính Tây Tiến phảng phất vẻ đẹp lãng mạn mà bi tráng của người tráng sĩ anh hùng xưa. Đó là bức tượng đài bất tử về những chiến binh kiêu hùng. 3.4. Đoạn 4 (Những câu còn lại): Khẳng định vẻ đẹp tinh thần của người lính Tây Tiến đối với thời đại và đối với lịch sử. - Vẻ đẹp tinh thần của người vệ quốc quân thời kì đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về. - Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến sẽ còn mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của thời đại chống thực dân Pháp. - Cụm từ người đi không hẹn ước thể hiện tinh thần quyết ra đi không hẹn ngày về. Hình ảnh đường lên thăm thẳm gợi lên cả một chặng đường gian lao của đoàn quân Tây Tiến. => Vẻ đẹp bất tử của người lính Tây Tiến được thể hiện ở âm hưởng, giọng điệu của cả 4 dòng thơ. Chất giọng thoáng buồn pha lẫn chút bâng khuâng, song chủ đạo vẫn là giọng hào hùng đầy khí phách. 4. Nghệ thuật + Cảm hứng lãng mạn, bi tráng + Sử dụng ngôn từ đặc sắc: từ địa danh, từ tượng hình, từ Hán Việt + Kết hợp chất nhạc và họa. Bài 3: VIỆT BẮC(TỐ HỮU) I. Tác giả: - Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. - Thơ ông tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình – chính trị: mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn; giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết, đậm đà tính dân tộc. - Các tác phẩm chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, II. Tác phẩm: 1. Hoàn cảnh sáng tác: - Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. - Tháng 10 năm 1954, ngay sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, các cơ quan Trung ương của Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống và gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu Việt Bắc để về xuôi. Bài thơ được viết nhân buổi chia tay lưu luyến đó. 2. Hình thức nghệ thuật của bài thơ: Mượn tình yêu lứa đôi để diễn tả tình yêu quê hương, đất nước. Việc sử dụng cặp đại từ xưng hô Mình – Ta và hình thức đối đáp giao duyên quen thuộc của ca dao, khiến cho bài thơ ca ngợi nghĩa tình kháng chiến, cách mạng trở thành một khúc hát ru kỉ niệm ngọt ngào, tha thiết. Kẻ ở - người đi, lời hỏi - lời đáp thực chất là sự phân thân cái tôi trữ tình của nhà thơ nhằm tạo sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân. 3. Nội dung: a. Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người kháng chiến: * Bốn câu đầu: Nỗi niềm trăn trở của người ở lại - Đoạn thơ cất lên bằng điệp khúc “có nhớ ta, có nhớ không?” như một lời nhắc nhở khéo, là nỗi niềm băn khoăn và cũng là nỗi nhớ da diết, miên man không thể nguôi ngoai. - Chia xa, không nhớ sao được khi “ Mười lăm năm ấy” mình cùng gắn bó, chia ngọt sẻ bùi. Hơn nữa Việt Bắc còn là cội nguồn, là cái nôi đã chở che cho cách mạng «nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn». → Lời ướm hỏi, gợi cả một quá khứ đầy ắp kỷ niệm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nhớ thương tuôn chảy. Đoạn thơ cũng là lời nhắn với người ra đi đừng quên Việt Bắc. * Bốn câu thơ tiếp: Tiếng lòng của người về xuôi: Động tác cầm tay nhau cùng các từ láy tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn vừa diễn tả tâm trạng lưu luyến, bịn rịn vừa lo lắng, bất an của con người kháng chiến trong buổi tiễn đưa. Nỗi xúc động ấy không thể diễn tả thành lời : «biết nói gì hôm nay» b. Tám mươi hai câu sau: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm: * Mười hai câu hỏi của người ở lại: - Sáu câu hỏi liên tục, trùng điệp biểu lộ sự bức xúc, múc độ mãnh liệt của cảm xúc “Mình đi có nhớ”, “mình về có nhớ”. + Hỏi chỉ để gợi lên trong hoài niệm của cả người đi và kẻ ở những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua. + Khơi gợi, nhắc nhớ những kỉ niệm trong những năm kháng chiến: Cuộc sống gian khổ, khó nhọc nhưng nặng nghĩa ân tình, con người giàu tình cảm thủy chung, * Bảy mươi câu đáp của người ra đi: - Nhớ những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị, thân quen đặc trưng cho VB: ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, rừng nứa bờ tre. - Nhớ những con người Việt Bắc nghèo khó, cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình. - Nhớ những ngày tháng sinh hoạt kháng chiến gian khổ mà lạc quan, nghĩa tình. - Bức tranh tứ bình độc đáo về núi rừng Việt Bắc: + Bức tranh bốn mùa tươi đẹp, đầy màu sắc, mỗi mùa có một vẻ đẹp, màu sắc riêng. + Cảnh và người gắn bó, hòa hợp, cứ một câu tả cảnh lại xen vào một câu người tạo một 8 bức tranh thiên nhiên ấm áp sự sống. + Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng từng mùa; Núi rừng ấm áp, chan hòa sự sống vì sự hiện diện của con người: người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng, người mẹ “nắng cháy lưng bắp ngô”, những tháng ngày đồng cam cộng khổ “Thương nhau, chia củ sắn lùi – Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng, những mái nhà “hắt hiu lòng son”, - Nhớ về cuộc kháng chiến anh hùng: Khắc họa khung cảnh Việt Bắc hùng tráng trong chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập với những đoàn bộ đội, dân công hùng hậu thông qua các thủ pháp phóng đại, điệp từ: “điệp điệp trùng trùng”, “bước chân nát đá”,..., những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức: “bước chân “rầm rập” tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện đại. - Nhớ Việt Bắc- đầu não kháng chiến, quê hương cách mạng: + Nhịp, hình ảnh thơ , trang nghiêm nhớ về Trung ương, chính phủ đang điều hành cuộc kháng chiến. + Giọng thơ suy tưởng suy lắng nhớ về Bác Hồ và Việt Bắc quê hương cách mạng, nơi hội tụ niềm tin 4. Đặc sắc nghệ thuật + Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng. + Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng thích hợp, tài tình. + Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ). + Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô mình - ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc. Bài 4: ĐẤT NƯỚC (TRÍCH TRƯỜNG CA MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG - NGUYỄN KHOA ĐIỀM). I. Tác giả: - Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ thơ trẻ chống Mỹ. - Thơ ông giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư người trí thức về nhân dân và đất nước. II. Đoạn trích “Đất Nước” 1. Xuất xứ: “Đất Nước” thuộc phần đầu của chương V trong trường ca Mặt đường khát vọng – tác phẩm được hoàn thành ở chiến khu Trị – Thiên năm 1971, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ vùng đô thị tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. 2. Nội dung: 2.1. Phần 1: Những cảm nhận mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước. a. Đất Nước được cảm nhận ở phương diện văn hóa, phong tục – tập quán: - Đất nước thật dung dị, đời thường, gắn bó với con người Việt Nam. Đất Nước hiện lên qua câu chuyện cổ tích mẹ kể ; qua miếng trầu bà ăn ; qua những dãy tre làng ; qua gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái cột, hạt gạo... - Đất nước kết tinh trong văn hóa, phong tục – tập quán của người Việt: tục ăn trầu, tục bới tóc sau đầu của phụ nữ, tục đặt tên bình dị của người bình dân ; trong truyền thống đánh giặc ; trong cuộc sống nghĩa tình lứa đôi ; trong công việc mưu sinh vất vả của người nông dân Việt Nam... - Cách cảm nhận như thế gợi nên một đất nước vừa xa xôi vừa gần gụi, trừu tượng nhưng cụ thể, thiêng liêng, huyền ảo nhưng cũng hết sức bình dị, thân quen với con người Việt Nam. - Nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện: Đoạn thơ là sự kết tinh đặc sắc giữa chất liệu văn hoá dân gian với hình thức thơ trữ tình - chính luận. b. Đất Nước cảm nhận ở phương diện không gian – địa lí, thời gian – lịch sử: * Về không gian - địa lí: + Đất nước là nơi rất gần gũi với cuộc sống mỗi người (nơi anh đến trường... nơi em tắm). + Đất Nước tồn tại ngay cả trong những không gian riêng tư của tình yêu đôi lứa: “Đất Nước là nơi ta hò hẹn. Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. + Đất Nước còn là không gian sinh tồn hết sức đời thường của nhân dân qua bao thế hệ “Những ai đã khuất. Những ai bây giờ. Yêu nhau và sinh con đẻ cái. Gánh vác phần người đi trước để lại”). * Về thời gian - lịch sử: - Đất Nước được cảm nhận suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai: + Đó là một Đất Nước thiêng liêng, hào hùng trong quá khứ (gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết về các vua Hùng dựng nước). + Đó là một Đất nước giản dị, gần gũi trong hiện tại (“Trong anh và em hôm nay. Đều có một phần Đất Nước”) + Và một Đất Nước triển vọng sáng tươi trong tương lai (“Mai này con ta lớn lên. Con sẽ mang Đất Nước đi xa. Đến những tháng ngày mơ mộng”). * Về văn hóa. Truyền thống uống nước nhớ nguồn. c.Từ cách cảm nhận và lí giải Đất Nước như thế nhà thơ suy nghĩ về trách nhiệm của mọi người: + Đất nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người, vì thế mọi người phải có tinh thần cống hiến, có trách nhiệm đối với sự trường tồn của quê hương, xứ sở. + Cần biết gắn bó biết san sẻ: sự sống của mỗi con người không chỉ là của riêng cá nhân mà còn thuộc về đất nước. + Lời nhắn nhủ với thế hệ trẻ, lời tự nhủ với chính bản thân chân thành tha thiết. 2.2. Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”: a. Về địa lí: - Nhà thơ đã nhìn ngắm đất nước mình qua các danh thắng trải dài từ Bắc chí Nam. Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại, huyền tích và sự thật về nhân dân trong lịch sử. Nói cách khác, chính những huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử về nhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch sử văn hóa được mọi người thừa nhận và biết đến: + Những người vợ nhớ chồng – núi Vọng Phu; + Cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái; + Người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên; + Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào bức “tranh họa đồ” đất nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy nghìn năm lịch sử : sự thủy chung; tình nghĩa vợ chồng; tinh thần yêu nước; ý thức hướng về tổ tông, nguồn cội; tinh thần hiếu học, ý chí vượt khó vươn lên; tinh thần xả thân vì cộng đồng, dân tộc - Sử dụng hình thức diễn đạt quy nạp: từ những bằng chứng riêng lẻ, cụ thể, nhà thơ khái quát nâng lên thành chân lí. Qua đó ông khẳng định: Nhân dân là người làm ra đất nước. b. Về lịch sử: - Khi nhìn vào “bốn nghìn năm đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh đến vai trò lịch sử của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Bên cạnh những người anh hùng có tên tuổi là những anh hùng vô danh. Đó là nhân dân lao động. Trong cuộc sống mưu sinh, họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ mai sau những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của đất nước: hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ dân tộc, bản sắc văn hóa các vùng miền Cũng chính họ “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm. Có nội thù thì vùng lên đánh bại” tạo dựng chủ quyền, đắp nền xây móng cho ngôi nhà đất nước để các thế hệ mai sau kế thừa và tiếp tục dựng xây, phát triển. c. Về văn hóa: - Khi khẳng định chất liệu để làm nên “Đất Nước của nhân dân” chính là văn hóa dân gian, mà tiêu biểu là ca dao. Ca dao chính là diện mạo tinh thần, là nơi lưu giữ đời sống tâm hồn tình cảm của nhân dân qua bao thế hệ. Nguyễn Khoa Điềm đã chọn ra từ kho tàng thơ ca dân gian ba nét đẹp tiêu biểu nhất của tâm hồn Việt, của bản sắc văn hóa đất nước: say đắm trong tình yêu, quý trọng tình nghĩa và kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh chống ngoại xâm. 3. Nghệ thuật: - Thể thơ tự do. - Sử dụng chất liệu văn hóa dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị, dân dã, giàu sức gợi. - Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, biến đổi linh hoạt. - Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữ tình. Bài 5: SÓNG (XUÂN QUỲNH) I. Tác giả: - Là gương mặt thơ nữ tài năng, hiếm hoi trong nền thi ca cách mạng Việt Nam. - Cuộc đời bất hạnh, luôn khát khao tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử. - Đặc điểm hồn thơ: là tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, khát khao hạnh phúc đời thường, bình dị, nhiều âu lo, day dứt, trăn trở trong tình yêu. - Tác phẩm chính: Lời ru trên mặt đất, Hoa dọc chiến hào, II. Bài thơ “Sóng” 1. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ: Sóng được sáng tác năm 1967, trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). 2. Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ: Âm điệu bài thơ là âm điệu của sóng biển. 3. Nội dung: a. Khổ 1: + Sóng hiện ra với những đối cực dữ dội >< lặng lẽ như những cung bậc tâm trạng của người phụ nữ khi yêu. + Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu. b. Khổ 2: + Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ. + Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ. c. Khổ 3, 4: + Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì, là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu bởi rất có thể khi ta biết yêu vì lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu ra đi. + Người phụ nữ, nhân vật em trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt. d. Khổ 5: + Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm “nhớ bờ”. Nỗi nhớ choáng cả không gian, thời gian. + Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy. Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sâu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức. e. Khổ 6, 7: + Cũng như sóng chỉ có một hướng đích duy nhất là bờ, em chỉ có phương anh làm điểm đến, bất chấp cuộc đời có nhiều trái ngang. + Sự thuỷ chung của sóng với bờ hay cũng chính là sự chung thuỷ của em với anh. Nếu nỗi nhớ làm thành biểu hiện nồng nàn, sôi nổi của tình yêu thì sự thuỷ chung lại là phần đằm sâu trong trái tim người phụ nữ. g. Hai khổ cuối: + Sự sống, tình yêu ở thời đại nào cũng luôn hữu hạn trong tương quan với cái vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận của thiên nhiên, vũ trụ. Trước cái vĩnh hằng của tạo hoá, trước dòng chảy vô hồi, vô hạn của cuộc đời, tình yêu của con người mãi mãi chỉ là “bóng câu qua cửa sổ”. Đó là cảm thức về thời gian. Dường như càng yêu mãnh liệt, càng khát khao gắn bó, con người càng hay nghĩ về thời gian. Người phụ nữ đang cháy bóng khát khao yêu và được yêu trong Sóng cũng không phải là ngoại lệ. + Vậy, chỉ có một cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi đó là hóa thân vào sóng. Đó là khát vọng được vĩnh cửu hoá tình yêu, được hoà tình yêu của mình vào khối tình chung của nhân loại, như con sóng hoà vào đại dương mênh mông, bất tận. 4. Nghệ thuật: - Nhịp điệu độc đáo, giàu sức liên tưởng: thể thơ năm chữ, cách ngắt nhịp, gieo vần, nối khổ linh hoạt. - Giọng điệu tha thiết chân thành, ít nhiều có sự phấp phỏng lo âu. - Xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ nghệ thụât về tình yêu của người phụ nữ. - Kết cấu song hành: sóng và em. Bài 6: ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA (THANH THẢO) I/ Tác giả: - Thanh Thảo là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Ông được công chúng ngưỡng mộ qua những bài thơ và trường ca mang phong cách độc đáo về chiến tranh và thời hậu chiến. - Thơ ông là tiếng nói của người trí thức có nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại. Ông luôn tìm kiếm những cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, hệ thống thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. - Tác phẩm chính: Dấu chân qua trảng cỏ, Những người đi tới biển, Khối vuông ru – bích, II/ Tác phẩm: 1. Xuất xứ: Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru-bích (1985), là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ của Thanh Thảo: giàu suy tư, phóng túng và ít nhiều nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực. 2. Ý nghĩa nhan đề, lời đề từ: a. Nhan đề: + Ghi ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu tượng cho nền nghệ thuật ở đất nước này. + Lor-ca là nhà thơ, nhạc sĩ, kịch tác gia nổi tiếng người Tây Ban Nha, người đã khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. + Đàn ghi ta của Lor-ca là biểu tượng cho những cách tân nghệ thuật của người nghệ sĩ thiên tài Ga-xi-a Lor-ca. b. Lời đề từ: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”: + Đây là câu thơ trích từ bài thơ Ghi nhớ của Lor-ca, mang ý nghĩa như một lời di nguyện của ông lúc còn sống. + Thể hiện tình yêu say đắm với nghệ thuật, với xứ sở Tây Ban Nha của Lor-ca. + Với tư cách là một nhà cách tân nghệ thuật, Lor-ca nghĩ rằng đến một ngày nào đó thơ ca của ông cũng sẽ án ngữ, ngăn cản sự sáng tao nghệ thuật của những người đến sau. Vì thế, nhà thơ đã căn dặn các thế hệ sau: hãy “chôn” nghệ thuật của ông (cùng với ông) để bước tiếp. Điều này thể hiện vẻ đẹp nhân cách của ông. 3. Nội dung bài thơ: 3.1. Đoạn 1 (6 dòng đầu): Hình tượng Lorca đơn độc trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha: - Gợi liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường với những võ sĩ đấu bò tót nổi tiếng dũng cảm ở Tây Ban Nha . - Cuộc chiến đấu giữa: + Khát vọng dân chủ của công dân Lor-ca với nền chính trị độc tài. + Khát vọng cách tân nghệ thuật của người nghệ sĩ với nền nghệ thuật già nua. - “Những tiếng đàn bọt nước” (tiếng đàn không chỉ cảm nhận bằng thính giác mà còn bằng thị giác), cùng chuỗi hợp âm li-la li-la li-la đã cho thấy nghệ sĩ Lor-ca đang bay bổng với những giai điệu mới, với khát vọng cách tân nghệ thuật. Tiếng đàn bọt nước gợi ra số phận mong manh của người nghệ sĩ. - Lor-ca đơn độc, mệt mỏi tranh đấu bền bỉ cho những khát vọng nghệ thuật cao đẹp. Như vậy, 6 dòng thơ đầu tiên là “khúc tiền tấu” của bản độc tấu ghi ta mang tên Lor-ca. Trong những giai điệu đầu tiên vút lên mạnh mẽ, hào hùng có những khoảnh khắc lắng xuống, day dứt, mong manh. 3.2. Đoạn 2 (12 dòng tiếp): Lor-ca và cái chết oan khuất: - Hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” gợi lên cái chết thê thảm của Lor-ca. - Cái chết đã ập đến quá nhanh và phũ phàng, giữa lúc Lor-ca không ngờ tới (Chàng vẫn còn đang “hát nghêu ngao” và vẫn chưa thể tin được rằng việc mình “bị điệu về bãi bắn” lại là một sự thật – Lor-ca đã “đi như người mộng du”). - Tiếng ghi ta không còn vẹn nguyên, nó đã vỡ ra: thành màu sắc (tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh biết mấy); thành hình khối (tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan); thành dòng máu chảy (tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy). - Mỗi tiếng ghi ta là một nỗi niềm của con người trước cái chết của Lorca: + Sự tiếc thương của người tình thủy chung (Tiếng ghi ta nâu. Bầu trời cô gái ấy). + Nỗi niềm xót xa, tiếc nuối của con người, của nhà thơ trước hành trình dở dang của những cách tân nghệ thuật (Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy. Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan). + Nỗi đau của chúng ta trước cái chết thê thảm của người nghệ sĩ (Tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy). Như vậy, Lor-ca đã phải dừng lại vĩnh viễn trong cuộc chiến đấu cho tự do, công lí và những khát vọng cách tân của người nghệ sĩ cũng theo đó mà như “bọt nước vỡ tan”. - Bốn lần cụm từ “tiếng ghi ta” được lặp lại, thể hiện cảm xúc mãnh liệt và cảm nhận đa chiều (mỗi “tiếng ghi ta” gắn liền với một hình ảnh) của tác giả về cái chết của Ga-xi-a Lor-ca. - Thủ pháp chuyển đổi cảm giác tạo nên những cảm nhận rất mới, rất độc đáo, phù hợp với những nỗ lực và khát vọng cách tân của người nghệ sĩ Lor-ca. 3.3 Đoạn 3 (4 dòng tiếp): Những tiếng đàn không được tiếp nối: + Tiếng đàn như cỏ mọc hoang” đồng nghĩa với nghệ thuật như cỏ mọc hoang tức là nghệ thuật thiếu vắng những người dẫn đường, vắng bóng người định hướng. Hành trình cách tân nghệ thuật của Lor-ca không có người tiếp tục. + “không ai chôn cất tiếng đàn” thể hiện một nỗi thất vọng lớn bởi dường như không ai thực sự hiểu Lorca, hiểu những suy nghĩ sâu sắc của người nghệ sĩ thiên tài gửi lại cho hậu thế. “Không ai chôn cất tiếng đàn” có nghĩa là không ai dám chôn nghệ thuật của Lor-ca. + “Vầng trăng”: vừa là hình ảnh thật vừa là hình ảnh tượng trưng cho nghệ thuật. + “Giọt nước mắt” và “đáy giếng” là những hoán dụ nghệ thuật về người nghệ sĩ Lor-ca. Hai câu thơ là nỗi buồn – một nỗi buồn trong sáng và rất đẹp của người nghệ sĩ chân chính luôn day dứt, khắc khoải những giá trị nghệ thuật đích thực và những khát vọng sáng tạo không bao giờ ngừng nghỉ. Hình ảnh của Lor-ca, di sản nghệ thuật của ông, lí tưởng của người nghệ sĩ suốt đời đấu tranh cho nền dân chủ, cho nghệ thuật chân chính không bao giờ lụi tắt. Trái lại, nó càng “long lanh” hơn bao giờ hết. Vầng trăng của thiên nhiên, vầng trăng của nghệ thuật như đang giao thoa ánh xạ với nhau để soi tỏ một con người đã chết cho quê hương. 3.4. Đoạn 4 (9 dòng cuối): Suy tư về sự ra đi của Lor-ca: - Tác giả đã nói về cái chết của Lor-ca từ góc độ tướng số học. Theo đó, cái chết của Lor-ca là một định mệnh đã được báo trước trên đường rãnh của bàn tay. Dòng thơ thể hiện một thái độ chấp nhận định mệnh phũ phàng, chấp nhận sự ra đi của Lor-ca như một quy luật không thể khác. - Lor-ca đau đớn khi những khát vọng cách tân của ông không được người đời sau tiếp tục. Nhưng Lor-ca còn đau đớn hơn nếu văn chương của ông, tên tuổi của ông là “lực cản” kìm hãm những nỗ lực sáng tạo của các thế hệ kế tiếp. Chính vì thế mà hình tượng Lor-ca “bơi sang ngang - trên chiếc ghi ta màu bạc” thật nhẹ nhàng, thanh thản. - Quyết định từ biệt thế giới mở đường cho những cách tân nghệ thuật của những người đến sau, Lor-ca đã hành động dứt khoát: “chàng ném lá bùa cô gái Di-gan – vào xoáy nước – chàng ném trái tim mình – vào lặng yên bất chợt”. Lor-ca ra đi thật đẹp, thật “sang”, thật đúng với tầm vóc và tư tưởng của người nghệ sĩ nổi tiếng. Những tiếng li-la li-la li-la một lần
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_i_mon_ngu_van_lop_12_nam_hoc_2019_202.docx